MANUFACTURING PROCESS AUDIT VS PRODUCTION PROCESS AUDIT

Nhiều người thắc mắc quá trình hay bộ phận sản xuất (production) là một phần của hệ thống quản lí chất lượng nên một khi đánh giá hệ thống quản lí chất lượng đồng nghĩa với việc quá trình sản xuất (production) đã được đánh giá. Vậy tại sao IATF 16949 còn có yêu cầu khác về đánh giá quá trình sản xuất (manufacturing)? Tôi có thể gộp 2 hoạt động này thành một được không?

Sự không tách bạch được phạm vi đánh giá này là một trong những nguyên nhân đầu tiên dẫn đến việc các điểm không phù hợp không được phát hiện triệt để trong quá trình đánh giá nội bộ.

Khác biệt về nghĩa

Để hiểu rõ về Production Process Audit và Manufacturing Process Audit trước hết cần hiểu về ý nghĩa của ngôn từ. Khi chuyển ngữ sang tiếng Việt cà “production” và “manufacturing” đều được dịch là “sản xuất” dẫn đến nhiều người nhầm rằng 2 hoạt động đánh giá này là một. Trong khi đó theo các từ điển tiếng Anh, “production” mang hàm ý rộng hơn để ám chỉ quá trình khởi tạo một sản phẩm hoặc dịch vụ từ việc lập kế hoạch, huy động nguồn lực, tạo ra – đóng gói – phân phối. “Production” cũng được sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm sản phẩm vật chất như máy giặt, tủ lạnh… đến sản phẩm phi vật chất như phim ảnh, phần mềm… Còn “manufacturing” là một phần của “production” liên quan đến các quá trình biến đổi hóa lí của sản phẩm vật chất gắn liền với máy móc, công cụ… ví dụ quá trình hàn, mạ…

Cho nên ở một góc độ nào đó có thể nói hệ thống có một “production process” nhưng có nhiều “manufacturing process” (dập, hàn, sơn, lắp ráp…) vì nếu xét theo yêu cầu kĩ thuật thì sản phẩm ở mỗi “manufacturing process” là khác nhau nhưng nếu xét về mong đợi chung thì sản phẩm ở các “manufacturing process” này đều phải đáp ứng yêu cầu chất lượng của khách hàng nên chúng đều là một phần của một “production process”. Vì vậy để tránh nhầm lẫn “manufacturing process” nên được dịch là “quá trình chế tạo” hoặc “công đoạn chế tạo” để phân biệt với “production process” hay “quá trình sản xuất”.

Khác biệt về kĩ thuật

Việc phân định về mặt ngữ nghĩa là chưa đủ để đảm bảo hiệu lực của 2 hoạt động đánh giá này. Bước tiếp theo cần xem xét về kĩ thuật đánh giá của chúng.

Cách tiếp cận chung của IATF 16949:2016 khi đánh giá các quá trình của hệ thống quản lí chất lượng là dựa trên cách tiếp cận quá trình và tư duy rủi ro. Tuy nhiên rủi ro của quá trình sản xuất (production process) nói chung và rủi ro của một quá trình chế tạo (manufacturing process) nói riêng là hoàn toàn khác nhau.

Để phân tích quá trình và rủi ro của một quá trình, IATF 16949 giới thiệu mô hình con rùa (Turtel Diagram), ví dụ dưới đây là mô hình phân tích quá trình và rủi ro (sơ đồ con rùa) của quá trình sản xuất (Production Process) và cách tiếp cận đánh giá.

Hình 1: Sơ đồ con rùa của quá trình sản xuất (Production Process)

Theo kết quả phân tích này, chuyên gia đánh giá cần phải kiểm tra “Quá trình có được kiểm soát không? (8.5.1.1)”. Trong khi yêu cầu về kiểm soát của mỗi công đoạn chế tạo lại khác nhau phụ thuộc vào bản chất của công đoạn đó.

Trong khi đó, rủi ro của các công đoạn chế tạo (“manufacturing process”) lại được phân tích sâu hơn về mặt kĩ thuật dựa trên bản chất của công đoạn đó. Công cụ để phân tích rủi ro của công đoạn chế tạo chính là PFMEA, kèm theo nó là Control Plan – tài liệu mô tả các biện pháp kiểm soát rủi ro được xác định từ PFMEA. Chính vì vậy mà IATF 16949 yêu cầu “đánh giá hiệu lực thực thi PFMEA, Control Plan và các tài liệu liên quan” khi đánh giá công đoạn sản xuất (9.2.2.3). Một số khách hàng còn yêu cầu cụ thể về hạng mục đánh giá dựa trên kết quả phân tích rủi ro của chính họ, ví dụ Honda có yêu cầu đánh giá công đoạn chế tạo theo các hạng mục Minimum Process Requirements (MPR) hoặc ngành điện tử có các CQI  hướng dẫn đánh giá các công đoạn đặc biệt như hàn thiếc (soldering), xử lí nhiệt (heat treatment)…Hình 2 bên dưới là phần trích dẫn từ yêu cầu đánh giá Solder Paste Printing (CQI-17).

Đánh giá công đoạn sản xuất

Kể cả một chuyên gia không có kinh nghiệm, khi đanh giá quá trình sản xuất vẫn biết rằng mình phải kiểm tra hồ sơ và quan sát hiện trường, kiểm tra thông số thiết bị. Nhưng hầu hết các chuyên gia đánh giá công đoạn sản xuất không thể có câu trả lời tổng quan nếu được hỏi “Anh/chị làm gì khi đánh giá một công đoạn sản xuất cụ thể ví dụ công đoạn mạ”. Việc hiểu đúng quan điểm đánh giá của IATF 16949 giúp các chuyên gia giải đáp được câu hỏi này (khi được phỏng vấn bởi chuyên gia đánh giá chứng nhận) và nâng cao hiệu lực của hoạt động đánh giá (phát hiện được toàn bộ điểm không phù hợp trước đánh giá chứng nhận).

Từ quan điểm của PFMEA

PFMEA là tài liệu mô tả các sai lỗi tiềm ẩn, nguyên nhân sai lỗi tiềm ẩn tại mỗi công đoạn của quá trình sản xuất và biện pháp kiểm soát bao gồm biện pháp phòng ngừa sai lỗi và biện pháp phát hiện sai lỗi.

Xuất phát từ quan điểm của PFMEA, chuyên gia đánh giá phải trả lời được các câu hỏi đánh giá sau.

Thứ nhất, các biện pháp phát hiện sai lỗi có được thực hiện? Ví dụ tại công đoạn Solder Paste Priting tồn tại lỗi tiềm ẩn liên quan đến lượng kem hàn. Chuyên gia đánh giá cần phải xác nhận liệu công đoạn có kiểm soát lượng kem hàn và nó nằm trong tiêu chuẩn thông qua xác nhận hồ sơ kiểm soát chất lượng.

Thứ hai, các biện pháp phòng ngừa mô tả trong PFMEA có được thực thi? Cũng tại công đoạn Solder Paste Printing, lỗi về lượng kem hàn có thể do tốc độ in (Printing Speed). Chuyên gia đánh giá cũng cần xác nhận liệu công đoạn có quy định tiêu chuẩn Printing Speed và định kì kiểm tra thực tế thông qua xác nhận hồ sơ ghi chép tại công đoạn.

Từ quan điểm của Control Plan

Control Plan là tài liệu mô tả các biện pháp kiểm soát công đoạn sản xuất bao gồm kiểm soát đặc tính chất lượng sản phẩm và đặc tính quá trình sản xuất. Từ quan điểm của Control Plan, chuyên gia đánh giá công đoạn sản xuất cần xác nhận xem điều kiện sản xuất hay đặc tính của quá trình có được vận hành trong điều kiện được kiểm soát hay nói cách khác có nằm trong dung sai/yêu cầu kĩ thuật quy định trong Control Plan hay không. Với công đoạn Solder Paste Printing như nêu trên, chuyên gia đánh giá cần kiểm tra tại thời điểm đánh giá Printing Speed có nằm trong khoảng 25 ~ 100 mm/s không.

Bằng cách tiếp cận như trên, đánh giá công đoạn sản xuất sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro cũng như các điểm không phù hợp tại các công đoạn sản xuất và giảm thiểu các điểm không phù hợp trong đánh giá hệ thống khi chứng nhận.